VN

Chủ nghĩa nữ quyền

Đừng nhầm lẫn với Quyền phụ nữ.

Một biểu tượng của Chủ nghĩa nữ giới

Chủ nghĩa nữ quyền Ngày Quốc tế Phụ nữ diễn ra tại Dhaka, Bangladesh, tổ chức bởi Trung ương Hội Liên hiệp Công nhân nữ quốc gia (National Women Workers Trade Union Centre) vào ngày 8 tháng 3 năm 2005.

Chủ nghĩa nữ giới hay chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa duy nữ là một tập hợp của các phong trào và ý thức hệ nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho phụ nữ. Điều này bao gồm tìm cách thiết lập cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong giáo dục và việc làm. Người theo chủ nghĩa nữ giới là người vận động hoặc ủng hộ các quyền và bình đẳng của phụ nữ.

Các vấn đề thường liên quan với khái niệm quyền của phụ nữ bao gồm, nhưng không giới hạn: cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyền được giáo dục và làm việc; được trả lương như nhau; quyền sở hữu tài sản; tham gia vào các hợp đồng hợp pháp, tổ chức các cơ quan công quyền; quyền bầu cử; quyền tự do kết hôn, bình đẳng trong gia đình và tự do tôn giáo.

Lý thuyết nữ giới chủ nghĩa, nổi lên từ phong trào nữ giới chủ nghĩa, nhằm mục đích để hiểu bản chất của bất bình đẳng giới bằng cách kiểm tra vai trò xã hội của phụ nữ và kinh nghiệm sống; nó đã phát triển lý thuyết trong một loạt các lĩnh vực để đối phó với các vấn đề như xây dựng xã hội về tình dục và giới tính. Một số hình thức trước đó của chủ nghĩa nữ quyền đã bị chỉ trích là chỉ dựa trên quan điểm của những người da trắng có mức thu nhập trung bình và khá. Điều này dẫn đến việc tạo ra các hình thức dân tộc cụ thể hoặc đa văn hóa của chủ nghĩa nữ quyền.

Những nhà hoạt động nữ giới chủ nghĩa vận động cho quyền của phụ nữ – chẳng hạn như trong luật hợp đồng, tài sản, và bỏ phiếu – trong khi cũng thúc đẩy sự toàn vẹn thân thể, quyền tự chủ, và quyền sinh sản cho phụ nữ. Các chiến dịch nữ quyền đã thay đổi xã hội, đặc biệt là ở phương Tây, bằng cách đạt được quyền bầu cử của phụ nữ, trung lập giới tính bằng tiếng Anh, bình đẳng lương cho phụ nữ, quyền sinh sản cho phụ nữ (bao gồm cả quyền tránh thai và phá thai), và quyền được ký kết hợp đồng và tài sản riêng. Những người theo chủ nghĩa nữ giới đã làm việc để bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái khỏi bạo lực gia đình, quấy rối tình dục và tấn công tình dục. Họ cũng đã ủng hộ cho các quyền tại nơi làm việc, bao gồm nghỉ thai sản, và chống lại các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Chủ nghĩa nữ quyền chủ yếu tập trung vào các vấn đề của phụ nữ, nhưng tác giả Bell Hooks và những người khác đã lập luận rằng, do chủ nghĩa nữ quyền muốn đạt tới bình đẳng giới nên nó nhất thiết phải bao gồm cả việc giải phóng cho đàn ông vì đàn ông cũng bị xâm hại bởi phân biệt giới tính và vai trò giới.

Lịch sử


Chủ nghĩa nữ quyền Tuần hành vì nữ quyền tại New York City, 6 tháng 5 năm 1912

Charles Fourier, một triết gia người Pháp chuyên về chủ nghĩa xã hội không tưởng, được coi là người đã đặt ra từ “chủ nghĩa nữ quyền” vào năm 1837. Từ “chủ nghĩa nữ quyền” lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp và Hà Lan vào năm 1872, Vương quốc Anh trong những năm 1890, và Hoa Kỳ vào năm 1910, và được Oxford English Dictionary liệt kê năm 1852 – được coi là năm của sự xuất hiện đầu tiên của từ feminist – “người theo nữ quyền” và 1895 cho feminism – “chủ nghĩa nữ quyền”. Tùy thuộc vào thời điểm lịch sử, văn hóa và quốc gia, những người theo nữ quyền trên toàn thế giới đã có động lực và mục tiêu khác nhau. Hầu hết các lịch sử về phong trào nữ quyền phương Tây khẳng định rằng tất cả các phong trào được thúc đẩy để thực thi quyền của phụ nữ nên được coi là phong trào nữ quyền, ngay cả khi các phong trào này đã không áp dụng thuật ngữ này để mô tả chúng. Các nhà sử học khác khẳng định rằng thuật ngữ này nên được giới hạn trong các phong trào nữ quyền hiện đại và hậu duệ của nó. Những sử gia này sử dụng nhãn hiệu “protofeminist” để mô tả các phong trào nữ quyền trước đó.

Lịch sử của phong trào nữ quyền phương Tây hiện đại được chia thành ba “làn sóng”. Mỗi làn sóng xử lý các khía cạnh khác nhau của các vấn đề nữ quyền giống nhau. Làn sóng đầu tiên bao gồm phong trào quyền bầu cử của phụ nữ ở thế kỷ XIX và XX, thúc đẩy quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Làn sóng thứ hai được kết hợp với những ý tưởng và hành động của phong trào giải phóng phụ nữ bắt đầu từ những năm 1960. Làn sóng thứ hai vận động cho bình đẳng pháp lý và xã hội đối với phụ nữ. Làn sóng thứ ba là một sự tiếp nối của, và là phản ứng đối với những thất bại về mặt nhận thức của hai làn sóng nữ quyền trước đó, và được bắt đầu từ những năm 1990.

Xem thêm


  • Quyền phụ nữ
  • Phân biệt đối xử theo giới tính
  • Thể hiện giới tính

Related Articles

Check Also
Close
Back to top button