Giáo Dục

Soạn bài Nội dung và hình thức của văn bản văn học

Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, học sinh sẽ được hướng dẫn tìm hiểu về nội dung và hình thức của văn bản văn học. Cẩm Nang Tiếng Anh sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 10: Nội dung và hình thức của văn bản văn học. Hy vọng có thể giúp ích cho bạn đọc.

Soạn văn Nội dung và hình thức của văn bản văn học

I. Các khái niệm của nội dung và hình thức trong văn bản văn học

1. Các khái niệm thường được coi là thuộc về mặt nội dung của văn bản văn học bao gồm: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật.

Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.

Ví dụ: Đề tài của “Tắt đèn” là cuộc sống bi thảm của người nông dân Việt Nam.

Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản. Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống.

Ví dụ: Chủ đề của “Tắt đèn” là sự mâu thuẫn giữa nông dân và bọn cường hào quan lại trong nông thôn Việt Nam.

Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc.

Ví dụ: Tư tưởng của “Tắt đèn” là lòng căm phẫn, sự tố cáo bọn hào lý quan lại ở nông thôn cũng như chính sách dã man của thực dân Pháp.

Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản. Những trạng thái tâm hồn, những cảm xúc đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ truyền cảm và hấp dẫn người đọc.

Ví dụ: Cảm hứng trong “Tắt đèn” là lòng căm phẫn từ đó tố cáo bọn hài lý quan lại ở nông thôn cũng như chính sách dã man của thực dân Pháp.

2. Các khái niệm thường được coi là thuộc về mặt hình thức: ngôn từ, kết cấu, và thể loại

Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn bản văn học. Các chi tiết, sự việc, hình tượng, nhân vật… và các thành tố khác được tạo nên nhờ lớp ngôn từ.

Kết cấu là sự sắp xếp, tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.

Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản thích hợp với nội dung văn bản.

II. Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học

– Văn bản văn học có chức năng chủ yếu: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ, giao tiếp…

– Nội dung của văn bản văn học cần thấm nhuần tinh thần nhân văn, tinh thần dân chủ và những tư tưởng sâu sắc khác có tác dụng nâng cao phẩm chất, hoàn thiện con người.

– Văn bản cần có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức – thống nhất nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật thẩm mỹ.

=> Tổng kết: Nội dung và hình thức của một văn bản văn học là hai mặt không thể chia tách. Nội dung chỉ có thể tồn tại trong một hình thứ nhất định. Và bất kỳ hình thức nào cũng mang một nội dung… Các khái niệm thường được coi thuộc về mặt nội dung là đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật. Các khái niệm thường được coi thuộc về mặt hình thức là ngôn từ, kết cấu và thể loại. Sự hài hòa giữa nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ là phẩm chất của các văn bản văn học ưu tú.

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Đề tài của văn bản văn học là gì? Cho ví dụ.

  • Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.
  • Ví dụ: Đề tài của truyện ngắn Chí Phèo: người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8.

Câu 2. Chủ đề là gì? Cho ví dụ.

  • Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản. Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống.
  • Ví dụ: Chủ đề của truyện ngắn Chí Phèo: Tố cáo xã hội thực dân phong kiến đã đẩy người nông dân vào con đường lưu manh tha hóa.

Câu 3. Mối quan hệ giữa cảm hứng và tư tưởng trong văn bản văn học.

Cảm hứng nghệ thuật và tư tưởng của văn bản có mối quan hệ mật thiết. Cách nêu lên nhận thức, lí giải chủ đề của tác giả bao giờ cũng chứa đựng trong đó những trạng thái tâm hồn, những cảm xúc cá nhân. Đây là mối quan hệ rất khó tách bạch.

Câu 4. Hãy nêu ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học.

  • Một văn bản văn học tốt về nội dung, đẹp về hình thức sẽ đáp ứng được những chức năng chủ yếu của văn học: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giao tiếp…
  • Không quan tâm đến nội dung, chỉ chú ý đến hình thức và ngược lại không quan tâm đến hình thức, chỉ chú ý đến nội dung đều không thể đạt yêu cầu của một văn bản văn học, do đó không thể thực hiện được các chức năng của văn học.

IV. Luyện tập

Câu 1. So sánh đề tài của hai văn bản văn học “Tắt đèn ” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan.

– Giống nhau: viết về người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8.

– Khác nhau:

  • Tắt đèn: Cuộc sống của người nông dân ở nông thôn trong những ngày sưu cao thuế nặng.
  • Bước đường cùng: Cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân bị bóc lột, bị địa chủ dùng thủ đoạn vay nặng lãi để lừa cướp đất.

Câu 2. Phân tích tư tưởng bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm.

Gợi ý:

– Tư tưởng: Ca ngợi công lao của người mẹ trong việc nuôi dạy con cái nên người.

– Phân tích:

  • Khổ thứ nhất là suy ngẫm mang tính khái quát về những mùa quả của mẹ.
  • Khổ thứ hai dựng lên một sự tương phản thú vị và có ý nghĩa sâu sắc giữa “chúng tôi” và “bầu, bí”. Chúng tôi thì “lớn lên” bầu bí thì “lớn xuống”: những quả bí, quả bầu giống hình thù những giọt mồ hôi của mẹ. Dù “lớn lên” hay lớn xuống” cũng đều từ bàn tay mẹ, mồ hôi và nước mắt của đời một người mẹ nghèo cơ cực, chắt chiu.
  • Khổ thơ cuối cùng: người con giật mình hoảng sợ khi thấy ngày “bàn tay mẹ mỏi” – kính trọng công lao sinh thành của mẹ.

Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, học sinh sẽ được hướng dẫn tìm hiểu về nội dung và hình thức của văn bản văn học. Cẩm Nang Tiếng Anh sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 10: Nội dung và hình thức của văn bản văn học. Hy vọng có thể giúp ích cho bạn đọc.

Soạn văn Nội dung và hình thức của văn bản văn học

I. Các khái niệm của nội dung và hình thức trong văn bản văn học

1. Các khái niệm thường được coi là thuộc về mặt nội dung của văn bản văn học bao gồm: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật.

Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.

Ví dụ: Đề tài của “Tắt đèn” là cuộc sống bi thảm của người nông dân Việt Nam.

Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản. Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống.

Ví dụ: Chủ đề của “Tắt đèn” là sự mâu thuẫn giữa nông dân và bọn cường hào quan lại trong nông thôn Việt Nam.

Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc.

Ví dụ: Tư tưởng của “Tắt đèn” là lòng căm phẫn, sự tố cáo bọn hào lý quan lại ở nông thôn cũng như chính sách dã man của thực dân Pháp.

Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản. Những trạng thái tâm hồn, những cảm xúc đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ truyền cảm và hấp dẫn người đọc.

Ví dụ: Cảm hứng trong “Tắt đèn” là lòng căm phẫn từ đó tố cáo bọn hài lý quan lại ở nông thôn cũng như chính sách dã man của thực dân Pháp.

2. Các khái niệm thường được coi là thuộc về mặt hình thức: ngôn từ, kết cấu, và thể loại

Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn bản văn học. Các chi tiết, sự việc, hình tượng, nhân vật… và các thành tố khác được tạo nên nhờ lớp ngôn từ.

Kết cấu là sự sắp xếp, tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.

Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản thích hợp với nội dung văn bản.

II. Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học

– Văn bản văn học có chức năng chủ yếu: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ, giao tiếp…

– Nội dung của văn bản văn học cần thấm nhuần tinh thần nhân văn, tinh thần dân chủ và những tư tưởng sâu sắc khác có tác dụng nâng cao phẩm chất, hoàn thiện con người.

– Văn bản cần có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức – thống nhất nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật thẩm mỹ.

=> Tổng kết: Nội dung và hình thức của một văn bản văn học là hai mặt không thể chia tách. Nội dung chỉ có thể tồn tại trong một hình thứ nhất định. Và bất kỳ hình thức nào cũng mang một nội dung… Các khái niệm thường được coi thuộc về mặt nội dung là đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật. Các khái niệm thường được coi thuộc về mặt hình thức là ngôn từ, kết cấu và thể loại. Sự hài hòa giữa nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ là phẩm chất của các văn bản văn học ưu tú.

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Đề tài của văn bản văn học là gì? Cho ví dụ.

  • Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.
  • Ví dụ: Đề tài của truyện ngắn Chí Phèo: người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8.

Câu 2. Chủ đề là gì? Cho ví dụ.

  • Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản. Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống.
  • Ví dụ: Chủ đề của truyện ngắn Chí Phèo: Tố cáo xã hội thực dân phong kiến đã đẩy người nông dân vào con đường lưu manh tha hóa.

Câu 3. Mối quan hệ giữa cảm hứng và tư tưởng trong văn bản văn học.

Cảm hứng nghệ thuật và tư tưởng của văn bản có mối quan hệ mật thiết. Cách nêu lên nhận thức, lí giải chủ đề của tác giả bao giờ cũng chứa đựng trong đó những trạng thái tâm hồn, những cảm xúc cá nhân. Đây là mối quan hệ rất khó tách bạch.

Câu 4. Hãy nêu ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học.

  • Một văn bản văn học tốt về nội dung, đẹp về hình thức sẽ đáp ứng được những chức năng chủ yếu của văn học: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giao tiếp…
  • Không quan tâm đến nội dung, chỉ chú ý đến hình thức và ngược lại không quan tâm đến hình thức, chỉ chú ý đến nội dung đều không thể đạt yêu cầu của một văn bản văn học, do đó không thể thực hiện được các chức năng của văn học.

IV. Luyện tập

Câu 1. So sánh đề tài của hai văn bản văn học “Tắt đèn ” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan.

– Giống nhau: viết về người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8.

– Khác nhau:

  • Tắt đèn: Cuộc sống của người nông dân ở nông thôn trong những ngày sưu cao thuế nặng.
  • Bước đường cùng: Cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân bị bóc lột, bị địa chủ dùng thủ đoạn vay nặng lãi để lừa cướp đất.

Câu 2. Phân tích tư tưởng bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm.

Gợi ý:

– Tư tưởng: Ca ngợi công lao của người mẹ trong việc nuôi dạy con cái nên người.

– Phân tích:

  • Khổ thứ nhất là suy ngẫm mang tính khái quát về những mùa quả của mẹ.
  • Khổ thứ hai dựng lên một sự tương phản thú vị và có ý nghĩa sâu sắc giữa “chúng tôi” và “bầu, bí”. Chúng tôi thì “lớn lên” bầu bí thì “lớn xuống”: những quả bí, quả bầu giống hình thù những giọt mồ hôi của mẹ. Dù “lớn lên” hay lớn xuống” cũng đều từ bàn tay mẹ, mồ hôi và nước mắt của đời một người mẹ nghèo cơ cực, chắt chiu.
  • Khổ thơ cuối cùng: người con giật mình hoảng sợ khi thấy ngày “bàn tay mẹ mỏi” – kính trọng công lao sinh thành của mẹ.
Back to top button
You cannot copy content of this page