Giáo Dục

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm

Cẩm Nang Tiếng Anh, xin giới thiệu đến tất cả các bạn soạn văn lớp 8: Viết đoạn văn trình bày luận điểm, đây là tài liệu vô cùng hữu ích được chúng tôi đăng tải tại đây.

Tài liệu này, sẽ gồm hai phần chính là: soạn văn chi tiết và soạn văn đầy đủ, được chúng tôi biên soạn theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 2. Sau đây, xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo.

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm chi tiết

I. Kiến thức cơ bản

1. Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

a. Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây;

lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

(Lý Công Uẩn, Chiếu dời đô)

b. Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc.

Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,… Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.

(Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)

Câu hỏi:

– Đâu là những câu chủ đề (câu nêu luận điểm) trong mỗi đoạn văn?

– Câu chủ đề trong từng đoạn được đặt ở vị trí nào (đầu hay cuối đoạn)?

– Trong hai đoạn văn trên, đoạn nào được viết theo cách diễn dịch và đoạn nào được viết theo cách quy nạp? Phân tích cách diễn dịch và quy nạp trong mỗi đoạn văn.

Trả lời:

Câu chủ đề trong hai đoạn văn:

(a): Thật là chống tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

(b): Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước

Câu chủ đề của đoạn (a) ở cuối còn đoạn (b) ở đầu đoạn văn

Đoạn văn (a) viết theo lối quy nạp; đoạn văn (b) viết theo lối diễn dịch

2. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

Ở màn đầu chương XVIII, cảnh nhà vợ chồng địa chủ Nghị Quế, Ngô Tất Tố cho bưng vào đấy một cái rổ nhún nhín bốn chó con. […] Quái thai là Ngô Tất Tố. Mới xem, ai cũng thấy vợ chồng địa chủ cũng chỉ là như mọi người khác thích chó, yêu gia súc, tưởng người lành hoặc kẻ bất lương cũng không khác nhau gì lắm trong việc nuôi chó con. Thằng chồng le te cho chó ăn cơm, ôn tồn hỏi về chó, rồi xem tướng chó. Hắn sung sướng. Vợ hắn và hắn bù khú […] với nhau trên câu chuyện chó con. Ấy thế rồi là đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu đứng đấy. Đoạn này, khá lắm, bác Tố ạ! Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

(Nguyễn Tuân, Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố)

Câu hỏi:

a. Hãy xem lại Ngữ văn 7, tập hai và cho biết: Lập luận là gì? Tìm luận điểm và cách lập luận trong đoạn văn trên. (Gợi ý: có phải nhà văn dùng phép tương phản hay không?)

b. Cách lập luận trong đoạn văn trên có làm cho luận điểm trở nên sáng sủa chính xác và có sức thuyết phục mạnh mẽ không?

c. Em có nhận xét gì về việc sắp xếp các ý trong đoạn văn vừa dẫn? Nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu” lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ cũng… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì hiệu quả của đoạn văn sẽ bị ảnh hưởng thế nào?

d. Trong đoạn văn, những cụm từ chuyện chó con, giọng chó má, thằng nhà giàu rước chó vào nhà, chất chó đểu của giai cấp nó được xếp cạnh nhau. Cách viết ấy có làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ và hấp dẫn không? Vì sao?

Trả lời:

a. Luận điểm của đoạn văn: “Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới phát hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

b. Cách lập luận: tác giả sử dụng phép tương phản để làm sáng tỏ cho luận tỏ, chính xác và tạo ra sức thuyết phục mạnh mẽ.

c. Cách sắp xếp hợp lý, nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay ra với mẹ con chị Dậu lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì đoạn văn không đúng trình tự trước sau của sự việc, không làm bật được bản chất “chó đểu” của giai cấp nó.

d. Trong đoạn văn, những cụm từ “chuyện chó con”, “giọng chó má”, “thằng nhà giàu rước chó vào nhà”… được xếp cạnh nhau làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ, hấp dẫn, từ đó lộ ra bản chất thú vật của bọn địa chủ.

II. Rèn luyện kỹ năng

1. Đọc hai câu văn sau và diễn đạt ý mỗi câu thành một luận điểm ngắn gọn, rõ.

a. Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

b. Ngoài việc đam mê viết, cái thích thứ hai của Nguyên Hồng là được truyền nghề cho bạn trẻ.

(Nguyễn Tuân)

Trả lời:

– Luận điểm: Cần phải tránh lối viết lan man, dài dòng.

– Luận điểm b: Nhà văn Nguyên Hồng thích truyền nghề cho các bạn trẻ.

2. Đoạn văn sau đây trình bày luận điểm gì và sử dụng các luận cứ nào? Hãy nhận xét về cách sắp xếp luận cứ và cách diễn đạt của đoạn văn.

Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho ảnh vật: sự mỏi mệt say sưa của con thuyền lúc trở về bến, nỗi khổ đau chất chứa trên toa tàu nặng trĩu, những vui buồn sầu tủi của một con đường.

(Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam )

Trả lời:

– Luận điểm của đoạn văn: Tế Hanh là một người tinh lắm.

+ Hệ thống luận cứ của Nguyễn Tuân.

+ Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.

+ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi.

– Luận cứ được Nguyễn Tuân đưa ra và sắp xếp rất logic, hợp lý: Luận cứ thứ nhất là tiền đề cho luận cứ thứ hai, đó là từ việc nhận xét về bức tranh sinh hoạt quê hương đến thế giới gần gũi, thân thuộc với con người, đi từ cái nhỏ đến cái lớn, xa hơn, bao quát, rộng lớn hơn.

3. Viết các đoạn văn ngắn triển khai ý các luận điểm sau:

a. Học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài.

b. Học vẹt không phát triển được năng lực suy nghĩ.

Trả lời:

a. Cho luận điểm: ” Học phải kết hợp với làm bài tập mới hiểu bài”.

– Các luận cứ:

+ Học để nắm bắt tri thức, tuy vậy việc củng cố những tri thức nắm bắt được còn quan trọng hơn.

(Dẫn chứng: Có nhiều người trong học tập thu nạp được nhiều kiến thức nhưng sau một thời gian không thực hành, kiến thức bị mai một, rơi rụng).

+ Làm bài tập sẽ giúp am hiểu hơn về kiến thức.

(Chứng minh: Lý thuyết phải được soi chiếu vào bài tập, từ lý thuyết để tìm ra hướng giải quyết trong bài làm, từ đó kiến thức trở thành có ích).

+ Việc làm bài tập thường xuyên sẽ củng cố tri thức hiệu quả nhất.

(Với những người chăm chỉ làm bài tập, những kiến thức thu nhận được không chỉ củng cố tri thức hiệu quả mà còn được nâng cao, hoàn thiện hơn khi tiếp xúc với thực tế).

b. Luận điểm: ” Học vẹt không phát triển được năng lực tư duy”.

– Giải thích khái niệm: học vẹt.

( Học vẹt chỉ là nói thao thao như vẹt nhưng không hiểu mình nói gì, nhiều người chỉ cố học thuộc lòng nhưng không nắm được bản chất của vấn đề).

– Học vẹt làm cho trí não trở nên lười biếng.

Khi không sử dụng thao tác tư duy, phân tích, giải thích… các kỹ năng thiết yếu của tư duy không được rèn luyện.

4. Để làm sáng tỏ luận điểm “Văn giải thích cần phải viết cho dễ hiểu”, em sẽ đưa ra những luận cứ nào? Những luận cứ ấy cần được sắp xếp theo một trình tự như thế nào để tăng hiệu quả thuyết phục của đoạn văn?

Có thể tham khảo trình tự sắp xếp luận cứ trong đoạn văn sau:

Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

Trả lời:

Để làm sáng tỏ luận điểm: ” Văn giải thích cần viết cho dễ hiểu” có thể đưa ra các luận cứ sau:

– Mục đích của văn giải thích là để giải thích cho người đọc hiểu rõ vấn đề nào đó.

– Nếu viết không dễ hiểu, người đọc từ chỗ khó tiếp nhận lời văn lại càng khó để hiểu người viết muốn trình bày.

– Khi viết cần thể hiện rành mạch, giản dị, tránh lỗi dùng từ cầu kỳ, có những cấu trúc phức tạp, cản trở quá trình tri nhận.

– Ngoài ra, khi viết phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận để sử dụng ngôn ngữ hợp lý và đạt hiệu quả cao.

→ Các luận cứ trên phải được trình bày theo một trình tự hợp lý, từ giải thích khái niệm đến sử dụng biện pháp nêu vấn đề, tiếp đó là đưa ra luận cứ chính.

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm ngắn gọn

I. Trình bày luận điểm thành một đoạn văn nghị luận

Câu 1 (trang 79-80 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Câu chủ đề:

– Đoạn 1: “Thật là chốn hội tụ trọng yếu … đế vương muôn đời” – Câu chủ đề mở đoạn

– Đoạn 2: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước” – Câu chủ đề là câu mở đoạn.

– Đoạn 1 viết theo kiểu quy nạp, đoạn 2 viết theo kiểu diễn dịch.

Câu 2 (trang 80-81 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

a.

+ Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm.

+ Luận điểm trong đoạn trích: Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

+ Tác giả đã sử dụng phép lập luận tương phản đối lập giữa hành động, cử chỉ giọng điệu của Nghị Quế với đàn chó con và với mẹ con chị Dậu

b. Việc dùng phép lập luận tương phản, đối lập khiến cho hình ảnh nhân vật Nghị Quế hiện lên với bản chất khốn nạn, dối trá, làm cho luận điểm trở nên sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho đoạn trích.

c. Việc sắp xếp trình tự các ý trong đoạn văn là hợp lý. Nếu đảo vị trí của các ý thì sẽ làm giảm giá trị tố cáo, sức thuyết phục của văn bản với người đọc. Bởi bản chất thật của Nghị Quế phải được vạch trần sau khi xây dựng cho người đọc cảm nhận hắn là một một con người có vẻ yêu gia súc, thích chó, chắc cũng sẽ đối xử tử tế với con người. Hoặc tác giả muốn xoáy sâu thêm giá trị của con người trong xã hội ấy, không bằng con chó của nhà giàu.

d. Việc sử dụng các cụm từ như trên đã tạo ra một liên tưởng và hấp dẫn đối với người đọc, khiến cho đoạn trích có sức thuyết phục hơn.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 81 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Luận điểm: Cần phải tránh lối viết lan man, dài dòng.

– Luận điểm b: Nhà văn Nguyên Hồng thích truyền nghề cho các bạn trẻ.

Câu 2 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Luận điểm: Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm.

– Tác giả đã trình bày các luận cứ:

+ Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.

+ Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới gần gũi với mỗi con người.

– Hai luận cứ trên được trình bày theo một trật tự hợp lý. Tác giả xuất phát từ sự thấu hiểu Tế Hanh (tinh tế, có thể nghe những điều không hình sắc, âm thanh).

+ Nhận định cũng rất chính xác về chất thơ Tế Hanh: đưa ta vào thế giới gần gũi mà ta chỉ cảm thấy một cách mờ mờ.

+ Luận cứ thứ hai là hệ quả của luận cứ thứ nhất, điều này tạo được sự logic, hợp lý.

Câu 3 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Đoạn văn 1:

“Trăm hay không bằng tay quen” là câu nói khẳng định một quy luật của cuộc sống, làm nhiều sẽ thuần thục, quen tay sẽ làm hay, làm đẹp. Trong học tập cũng vậy, học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài. Học là quá trình tiếp thu tri thức từ sách vở, người khác để biến tri thức đó thành của mình. Thế nhưng, cái chúng ta học được từ sách vở, trên trường lớp chỉ là ý thuyết, nếu không thực hành thì lý thuyết ấy cũng không có giá trị. Việc làm bài tập sẽ giúp ta khắc sâu được phần lý thuyết vừa học trên trường. Đơn giản như làm một bài toán với một công thức, nếu ta làm mười lần,hai mươi lần thì công thức ấy tự nhiên sẽ được bộ não của ta ghi nhớ, có thể sẽ không bao giờ quên. Nếu không làm bài tập, ta sẽ quên công thức ấy ngay sau 3-5 ngày học. Không chỉ thế, làm bài tập sẽ giúp ta hiểu sâu hơn kiến thức và lấy nó làm nền tảng để mở rộng kiến thức ấy. Khi học về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta sẽ thấy được khung cảnh của nông thôn Việt Nam vào mùa thúc sưu thuế. Vận dụng các kiến thức Văn học để so sánh và đối chiếu, ta sẽ thấy được chị Dậu, Lão Hạc, Chí Phèo, dì Hảo, anh Pha…trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nam Cao hay Nguyễn Công Hoan đều là số phận cơ cực của người nông dân Việt Nam trước cách mạng.

Đoạn văn 2:

Bản chất của việc học là tiếp thu tri thức, học để hiểu biết, học để làm người. Thế nhưng học vẹt lại là hình thức học đối phó, học thuộc lòng, lặp đi lặp lại kiến thức một cách máy móc. Những người học vẹt không học vì kiến thức mà chỉ học vì điểm số, vì các bài kiểm tra. Hậu quả là khi đã học vét, ta sẽ không hiểu được bản chất của vấn đề, có khi kiến thức sai chính ta cũng không nhận ra được. Lâu dẫn con người sẽ bị trì trệ, bộ não không chịu hoạt động, suy nghĩ khiến ta trở nên lười biếng, chây lì, chậm chạp. Có thể nói, học vẹt không thể phát triển được năng lực suy nghĩ của con người.

Câu 4 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Các luận cứ có thể đưa ra và sắp xếp theo trình tự:

+ Mục đích của văn giải thích là làm cho người đọc, người nghe hiểu rõ về một vấn đề, đối tượng.

+ Nếu viết không dễ hiểu, người đọc rất khó tiếp nhận, không hiểu rõ về vấn đề.

+ Cần viết rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và xác định rõ đối tượng mình hướng tới là ai.

Cẩm Nang Tiếng Anh, xin giới thiệu đến tất cả các bạn soạn văn lớp 8: Viết đoạn văn trình bày luận điểm, đây là tài liệu vô cùng hữu ích được chúng tôi đăng tải tại đây.

Tài liệu này, sẽ gồm hai phần chính là: soạn văn chi tiết và soạn văn đầy đủ, được chúng tôi biên soạn theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 2. Sau đây, xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo.

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm chi tiết

I. Kiến thức cơ bản

1. Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

a. Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây;

lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

(Lý Công Uẩn, Chiếu dời đô)

b. Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc.

Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,… Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.

(Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)

Câu hỏi:

– Đâu là những câu chủ đề (câu nêu luận điểm) trong mỗi đoạn văn?

– Câu chủ đề trong từng đoạn được đặt ở vị trí nào (đầu hay cuối đoạn)?

– Trong hai đoạn văn trên, đoạn nào được viết theo cách diễn dịch và đoạn nào được viết theo cách quy nạp? Phân tích cách diễn dịch và quy nạp trong mỗi đoạn văn.

Trả lời:

Câu chủ đề trong hai đoạn văn:

(a): Thật là chống tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

(b): Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước

Câu chủ đề của đoạn (a) ở cuối còn đoạn (b) ở đầu đoạn văn

Đoạn văn (a) viết theo lối quy nạp; đoạn văn (b) viết theo lối diễn dịch

2. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

Ở màn đầu chương XVIII, cảnh nhà vợ chồng địa chủ Nghị Quế, Ngô Tất Tố cho bưng vào đấy một cái rổ nhún nhín bốn chó con. […] Quái thai là Ngô Tất Tố. Mới xem, ai cũng thấy vợ chồng địa chủ cũng chỉ là như mọi người khác thích chó, yêu gia súc, tưởng người lành hoặc kẻ bất lương cũng không khác nhau gì lắm trong việc nuôi chó con. Thằng chồng le te cho chó ăn cơm, ôn tồn hỏi về chó, rồi xem tướng chó. Hắn sung sướng. Vợ hắn và hắn bù khú […] với nhau trên câu chuyện chó con. Ấy thế rồi là đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu đứng đấy. Đoạn này, khá lắm, bác Tố ạ! Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

(Nguyễn Tuân, Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố)

Câu hỏi:

a. Hãy xem lại Ngữ văn 7, tập hai và cho biết: Lập luận là gì? Tìm luận điểm và cách lập luận trong đoạn văn trên. (Gợi ý: có phải nhà văn dùng phép tương phản hay không?)

b. Cách lập luận trong đoạn văn trên có làm cho luận điểm trở nên sáng sủa chính xác và có sức thuyết phục mạnh mẽ không?

c. Em có nhận xét gì về việc sắp xếp các ý trong đoạn văn vừa dẫn? Nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu” lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ cũng… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì hiệu quả của đoạn văn sẽ bị ảnh hưởng thế nào?

d. Trong đoạn văn, những cụm từ chuyện chó con, giọng chó má, thằng nhà giàu rước chó vào nhà, chất chó đểu của giai cấp nó được xếp cạnh nhau. Cách viết ấy có làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ và hấp dẫn không? Vì sao?

Trả lời:

a. Luận điểm của đoạn văn: “Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới phát hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

b. Cách lập luận: tác giả sử dụng phép tương phản để làm sáng tỏ cho luận tỏ, chính xác và tạo ra sức thuyết phục mạnh mẽ.

c. Cách sắp xếp hợp lý, nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay ra với mẹ con chị Dậu lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì đoạn văn không đúng trình tự trước sau của sự việc, không làm bật được bản chất “chó đểu” của giai cấp nó.

d. Trong đoạn văn, những cụm từ “chuyện chó con”, “giọng chó má”, “thằng nhà giàu rước chó vào nhà”… được xếp cạnh nhau làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ, hấp dẫn, từ đó lộ ra bản chất thú vật của bọn địa chủ.

II. Rèn luyện kỹ năng

1. Đọc hai câu văn sau và diễn đạt ý mỗi câu thành một luận điểm ngắn gọn, rõ.

a. Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

b. Ngoài việc đam mê viết, cái thích thứ hai của Nguyên Hồng là được truyền nghề cho bạn trẻ.

(Nguyễn Tuân)

Trả lời:

– Luận điểm: Cần phải tránh lối viết lan man, dài dòng.

– Luận điểm b: Nhà văn Nguyên Hồng thích truyền nghề cho các bạn trẻ.

2. Đoạn văn sau đây trình bày luận điểm gì và sử dụng các luận cứ nào? Hãy nhận xét về cách sắp xếp luận cứ và cách diễn đạt của đoạn văn.

Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho ảnh vật: sự mỏi mệt say sưa của con thuyền lúc trở về bến, nỗi khổ đau chất chứa trên toa tàu nặng trĩu, những vui buồn sầu tủi của một con đường.

(Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam )

Trả lời:

– Luận điểm của đoạn văn: Tế Hanh là một người tinh lắm.

+ Hệ thống luận cứ của Nguyễn Tuân.

+ Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.

+ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi.

– Luận cứ được Nguyễn Tuân đưa ra và sắp xếp rất logic, hợp lý: Luận cứ thứ nhất là tiền đề cho luận cứ thứ hai, đó là từ việc nhận xét về bức tranh sinh hoạt quê hương đến thế giới gần gũi, thân thuộc với con người, đi từ cái nhỏ đến cái lớn, xa hơn, bao quát, rộng lớn hơn.

3. Viết các đoạn văn ngắn triển khai ý các luận điểm sau:

a. Học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài.

b. Học vẹt không phát triển được năng lực suy nghĩ.

Trả lời:

a. Cho luận điểm: ” Học phải kết hợp với làm bài tập mới hiểu bài”.

– Các luận cứ:

+ Học để nắm bắt tri thức, tuy vậy việc củng cố những tri thức nắm bắt được còn quan trọng hơn.

(Dẫn chứng: Có nhiều người trong học tập thu nạp được nhiều kiến thức nhưng sau một thời gian không thực hành, kiến thức bị mai một, rơi rụng).

+ Làm bài tập sẽ giúp am hiểu hơn về kiến thức.

(Chứng minh: Lý thuyết phải được soi chiếu vào bài tập, từ lý thuyết để tìm ra hướng giải quyết trong bài làm, từ đó kiến thức trở thành có ích).

+ Việc làm bài tập thường xuyên sẽ củng cố tri thức hiệu quả nhất.

(Với những người chăm chỉ làm bài tập, những kiến thức thu nhận được không chỉ củng cố tri thức hiệu quả mà còn được nâng cao, hoàn thiện hơn khi tiếp xúc với thực tế).

b. Luận điểm: ” Học vẹt không phát triển được năng lực tư duy”.

– Giải thích khái niệm: học vẹt.

( Học vẹt chỉ là nói thao thao như vẹt nhưng không hiểu mình nói gì, nhiều người chỉ cố học thuộc lòng nhưng không nắm được bản chất của vấn đề).

– Học vẹt làm cho trí não trở nên lười biếng.

Khi không sử dụng thao tác tư duy, phân tích, giải thích… các kỹ năng thiết yếu của tư duy không được rèn luyện.

4. Để làm sáng tỏ luận điểm “Văn giải thích cần phải viết cho dễ hiểu”, em sẽ đưa ra những luận cứ nào? Những luận cứ ấy cần được sắp xếp theo một trình tự như thế nào để tăng hiệu quả thuyết phục của đoạn văn?

Có thể tham khảo trình tự sắp xếp luận cứ trong đoạn văn sau:

Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

Trả lời:

Để làm sáng tỏ luận điểm: ” Văn giải thích cần viết cho dễ hiểu” có thể đưa ra các luận cứ sau:

– Mục đích của văn giải thích là để giải thích cho người đọc hiểu rõ vấn đề nào đó.

– Nếu viết không dễ hiểu, người đọc từ chỗ khó tiếp nhận lời văn lại càng khó để hiểu người viết muốn trình bày.

– Khi viết cần thể hiện rành mạch, giản dị, tránh lỗi dùng từ cầu kỳ, có những cấu trúc phức tạp, cản trở quá trình tri nhận.

– Ngoài ra, khi viết phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận để sử dụng ngôn ngữ hợp lý và đạt hiệu quả cao.

→ Các luận cứ trên phải được trình bày theo một trình tự hợp lý, từ giải thích khái niệm đến sử dụng biện pháp nêu vấn đề, tiếp đó là đưa ra luận cứ chính.

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm ngắn gọn

I. Trình bày luận điểm thành một đoạn văn nghị luận

Câu 1 (trang 79-80 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Câu chủ đề:

– Đoạn 1: “Thật là chốn hội tụ trọng yếu … đế vương muôn đời” – Câu chủ đề mở đoạn

– Đoạn 2: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước” – Câu chủ đề là câu mở đoạn.

– Đoạn 1 viết theo kiểu quy nạp, đoạn 2 viết theo kiểu diễn dịch.

Câu 2 (trang 80-81 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

a.

+ Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm.

+ Luận điểm trong đoạn trích: Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

+ Tác giả đã sử dụng phép lập luận tương phản đối lập giữa hành động, cử chỉ giọng điệu của Nghị Quế với đàn chó con và với mẹ con chị Dậu

b. Việc dùng phép lập luận tương phản, đối lập khiến cho hình ảnh nhân vật Nghị Quế hiện lên với bản chất khốn nạn, dối trá, làm cho luận điểm trở nên sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho đoạn trích.

c. Việc sắp xếp trình tự các ý trong đoạn văn là hợp lý. Nếu đảo vị trí của các ý thì sẽ làm giảm giá trị tố cáo, sức thuyết phục của văn bản với người đọc. Bởi bản chất thật của Nghị Quế phải được vạch trần sau khi xây dựng cho người đọc cảm nhận hắn là một một con người có vẻ yêu gia súc, thích chó, chắc cũng sẽ đối xử tử tế với con người. Hoặc tác giả muốn xoáy sâu thêm giá trị của con người trong xã hội ấy, không bằng con chó của nhà giàu.

d. Việc sử dụng các cụm từ như trên đã tạo ra một liên tưởng và hấp dẫn đối với người đọc, khiến cho đoạn trích có sức thuyết phục hơn.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 81 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Luận điểm: Cần phải tránh lối viết lan man, dài dòng.

– Luận điểm b: Nhà văn Nguyên Hồng thích truyền nghề cho các bạn trẻ.

Câu 2 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Luận điểm: Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm.

– Tác giả đã trình bày các luận cứ:

+ Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.

+ Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới gần gũi với mỗi con người.

– Hai luận cứ trên được trình bày theo một trật tự hợp lý. Tác giả xuất phát từ sự thấu hiểu Tế Hanh (tinh tế, có thể nghe những điều không hình sắc, âm thanh).

+ Nhận định cũng rất chính xác về chất thơ Tế Hanh: đưa ta vào thế giới gần gũi mà ta chỉ cảm thấy một cách mờ mờ.

+ Luận cứ thứ hai là hệ quả của luận cứ thứ nhất, điều này tạo được sự logic, hợp lý.

Câu 3 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Đoạn văn 1:

“Trăm hay không bằng tay quen” là câu nói khẳng định một quy luật của cuộc sống, làm nhiều sẽ thuần thục, quen tay sẽ làm hay, làm đẹp. Trong học tập cũng vậy, học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài. Học là quá trình tiếp thu tri thức từ sách vở, người khác để biến tri thức đó thành của mình. Thế nhưng, cái chúng ta học được từ sách vở, trên trường lớp chỉ là ý thuyết, nếu không thực hành thì lý thuyết ấy cũng không có giá trị. Việc làm bài tập sẽ giúp ta khắc sâu được phần lý thuyết vừa học trên trường. Đơn giản như làm một bài toán với một công thức, nếu ta làm mười lần,hai mươi lần thì công thức ấy tự nhiên sẽ được bộ não của ta ghi nhớ, có thể sẽ không bao giờ quên. Nếu không làm bài tập, ta sẽ quên công thức ấy ngay sau 3-5 ngày học. Không chỉ thế, làm bài tập sẽ giúp ta hiểu sâu hơn kiến thức và lấy nó làm nền tảng để mở rộng kiến thức ấy. Khi học về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta sẽ thấy được khung cảnh của nông thôn Việt Nam vào mùa thúc sưu thuế. Vận dụng các kiến thức Văn học để so sánh và đối chiếu, ta sẽ thấy được chị Dậu, Lão Hạc, Chí Phèo, dì Hảo, anh Pha…trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nam Cao hay Nguyễn Công Hoan đều là số phận cơ cực của người nông dân Việt Nam trước cách mạng.

Đoạn văn 2:

Bản chất của việc học là tiếp thu tri thức, học để hiểu biết, học để làm người. Thế nhưng học vẹt lại là hình thức học đối phó, học thuộc lòng, lặp đi lặp lại kiến thức một cách máy móc. Những người học vẹt không học vì kiến thức mà chỉ học vì điểm số, vì các bài kiểm tra. Hậu quả là khi đã học vét, ta sẽ không hiểu được bản chất của vấn đề, có khi kiến thức sai chính ta cũng không nhận ra được. Lâu dẫn con người sẽ bị trì trệ, bộ não không chịu hoạt động, suy nghĩ khiến ta trở nên lười biếng, chây lì, chậm chạp. Có thể nói, học vẹt không thể phát triển được năng lực suy nghĩ của con người.

Câu 4 (trang 82 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

– Các luận cứ có thể đưa ra và sắp xếp theo trình tự:

+ Mục đích của văn giải thích là làm cho người đọc, người nghe hiểu rõ về một vấn đề, đối tượng.

+ Nếu viết không dễ hiểu, người đọc rất khó tiếp nhận, không hiểu rõ về vấn đề.

+ Cần viết rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và xác định rõ đối tượng mình hướng tới là ai.

Back to top button
You cannot copy content of this page